Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh (NMNĐQN) công suất (4x300 MW) do Nhà Tổng thầu Tập đoàn Điện khí Thượng Hải – Trung Quốc (SEC) thiết kế, chế tạo, cung cấp thiết bị, xây dựng, lắp đặt, thí nghiệm và chạy thử. Hầu hết các thiết bị của Nhà máy là do SEC chế tạo. Thiết kế tổng thể Nhà máy do Viện thiết kế Tây Bắc-Trung Quốc (NWEPDI).Phần Lò hơi là do Tập đoàn ALSTOM của Pháp thiết kế. Phần công nghệ đốt kiểu than phun (PC), kiểu đốt là vòi phun chúc xuống hình W, tổ chức quá trình cháy là đốt theo lớp (vòi phun dẹt chúc xuống) khác với qúa trình cháy theo kiểu vòi phun đậm đặc. Có thể nói kiểu tổ chức quá trình cháy của Lò hơi NMNĐQN khác Lò hơi của các Nhà máy nhiệt điện khác như NMNĐ Phả Lại II và NMNĐ Hải Phòng. 

nhietdien quangninh Hệ thống nghiền than độc lập hoàn toàn với quá trình đốt của lò hơi: Gió của Hệ thống nghiền than được đưa qua túi lọc than mịn rồi thải ra ngoài môi trường. Có thể nói đây là Lò hơi có Hệ thống đốt than phức tạp nhất Việt Nam hiện nay. Mục đích làm giảm thiểu NOx, giảm lượng Các bon trong tro bay ở mức tháp nhất phục vụ làm phụ gia xi măng (trộn trực tiếp với Lanh ke). Hiện nay Công ty đã cung cấp tro bay cho nhiều đối tác đến mua tro bay khô để làm phụ gia xi măng, gạch chưng áp trong đó có Nhà máy xi măng Hoàng Thạch.

Thiết bị Tua bin-Máy phát điện thiết kế theo mẫu WESTING HOUSE của Đức. Cuộn dây Stato của Máy phát được làm mát trực tiếp bằng nước (nước đi trong lõi dây Stato). Biến áp chính do Nhà máy chế tạọ biến áp Thẩm Dương-Trung Quốc thiết kế và chế tạo.

Đến nay tổ máy số 1 và 2 đã cấp PAC, đang trong giai đoạn bảo hành. Tổ máy số 3 bắt đầu quá trình chạy thử nghiệm thu thiết bị, dự kiến phát điện quý I-2013. Tổ máy sô 4 đã hoàn thành việc thử áp lực Lò hơi, dự kiến phát điện quý III-2013. Theo kế hoạch Nhà máy sẽ hoàn thành và bàn giao vào quý IV-2013. Đến nay Tổ máy số 1 đã phát điện lên lưới được 2783 triệu kWh, tổ máy đã phát điện lên lưới 2430 triệu kWh.

Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh là một Nhà máy trẻ. Toàn bộ lực lượng vận hành đang trong quá trình đào tạo chuyển giao công nghệ giữa các chuyên gia Trung Quốc và công nhân vận hành Việt Nam.

Tập thể cán bộ công nhân viên Công ty đang cố gắng tiếp thu công nghệ KHKT để vận hành Nhà máy an toàn, ổn định, liên tục và kinh tế.

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG 8 THÁNG ĐẦU NĂM 2012

Sau 8 tháng sản xuất kinh doanh trong kế hoạch của năm 2012, các tổ  máy số 1 (TM1) và số 2 (TM2) Dự án NMNĐ Quảng Ninh 1 đang trong giai đoạn bảo hành và tham gia vào thị trường phát điện cạnh tranh (TT). 8 tháng đầu năm sản lượng điện thực tế được thanh toán theo thị trường của 02 TM đạt 1,89 tỷ KWh tương ứng với 75,12% so với kế hoạch. Bên cạnh việc duy trì hoạt động của TM theo TT. Hiện tại, công ty đang hoàn tất các thủ tục quyết toán vốn đầu tư xây dựng Dự án Quảng Ninh 1 và tiếp tục chỉ đạo Nhà thầu khắc phục các tồn tại của 02 TM sau khi cấp chứng chỉ nghiệm thu tạm thời (PAC).

Đối với Dự án NMNĐ Quảng Ninh 2: 8 tháng đầu năm 2012, tiến độ thi công xây dựng đã được Nhà thầu đẩy nhanh và đồng bộ sau khi kết thúc đàm phàn quyết toán Hợp đồng EPC và điều chỉnh mốc tiến độ của Hợp đồng. Nhà thầu đã hoàn thành một số mốc quan trọng như: Thử áp lực lò hơi, đậy nắp tuabin – máy phát tổ máy số 3 (TM3); nâng bao hơi tổ máy số 4 (TM4) … Hiện nay, Nhà thầu đang tập trung các công việc chủ yếu như là căn chỉnh và chạy thử thiết bị TM3, lắp đặt TB TM4…

Đến thời điểm này, các Bên mới thống nhất và ký kết phần giá trị bồi hoàn của Nhà thầu cho Chủ đầu tư là 89.028 USD bao gồm: thay đổi vật liệu lan can tay vịn cầu thang TM1; thay đổi tôn lợp và bao che một số hạng mục. Như vậy so với tiến độ quy định trong Hợp đồng (tháng 6/2012 sẽ xây dựng xong) thì tiến độ thi công đang bị nhiều, mà nguyên nhân chủ yếu do Nhà thầu thiếu năng lực thi công (kể cả về nhân lực và trang thiết bị thi công) dù Công ty đã thường xuyên đôn đốc, yêu cầu đẩy nhanh tiến độ và tạo điều kiện giải quyết các đề xuất hợp lý của Nhà thầu. Tính đến ngày 31/8/2012, tổng khối lượng thực hiện toàn bộ Dự án QN2 ước đạt 66,5% (kế hoạch Nhà thầu đặt ra là 83,6%). Trong đó: TM3 ước đạt 71,7% (kế hoạch Nhà thầu đặt ra là 92,1%); TM4 ước đạt 31,2% (Kế hoạch Nhà thầu đặt ra là 58,3%). Trong 8 tháng đầu năm 2012, Nhà thầu SEC tiếp tục tiến hành thi công lắp đặt và căn chỉnh TM3; lắp đặt TM4. So với mốc tiến độ theo cam kết của Nhà thầu SEC, tiến độ thi công xây lắp của Nhà thầu vẫn chậm, có nguy cơ không đạt mục tiêu tiến độ đề ra (mặc dù Nhà thầu đã cố gắng đẩy nhanh và đồng bộ việc thi công xây lắp các hạng mục); Chủ đầu tư và Tư vấn kỹ thuật cần tiếp tục đôn đốc, cảnh báo và yêu cầu Nhà thầu bổ sung nhân lực để đẩy nhanh hơn nữa tiến độ thi công tại công trường.

Như vậy, so với kế hoạch SXKD năm 2012 đã được HĐQT phê duyệt và ĐHĐCĐ thông qua, về cơ bản các chỉ tiêu sản lượng, doanh thu đã đạt so với kế hoạch. Một số chỉ tiêu chính cao hơn so với kế hoạch đề ra như là suất kèm dầu, chi phí hoạt động tài chính mà nguyên nhân chủ yếu do thiết bị vận hành chưa ổn định, phải đốt kèm dầu kỹ thuật để thổi bụi lò, chọc xỉ hot gate, TM nhiều lần phải ngừng để sửa chữa, ngừng do sự cố. Bên cạnh đó khi các TM tham gia thị trường phát điện cạnh tranh, việc huy động hay dừng TM do TT can thiệp dẫn đến tần suất dừng, khởi động các TM sẽ thường xuyên hơn, kéo theo suất tiêu hao dầu tăng. Đối với chi phí hoạt động tài chính (**): Trong kế hoạch SXKD năm 2012 được duyệt chưa tính đến khoản chi phí chênh lệch tỷ giá phát sinh. Tuy nhiên, 8 tháng đầu năm 2012 Công ty đã hạch toán một khoản chi phí chênh lệch tỷ giá vào chi phí hoạt động tài chính, làm cho khoản chi này tăng cao so với kế hoạch.

Để hoàn thành kế hoạch năm 2012, tập thể lãnh đạo công ty đã và đang tập trung tiến hành một số giải pháp như, ban hành các quy chế quản lý nội bộ, hoàn thiện quy định về chức năng nhiệm vụ đối với các phòng ban, phân xưởng để hoàn thành bộ quy chế quản lý của Công ty. Đồng thời thực hiện nghiêm túc các quy chế quản lý đã được ban hành, kiện toàn bộ máy tổ chức, thực hành tiết kiệm, giảm tối đa với những chi tiêu không thật cần thiết; hoàn thành việc biên soạn và ban hành các bộ quy trình vận hành thiết bị, quy trình xử lý sự cố giai đoạn 1, giai đoạn 2, định mức tiêu hao kinh tế - kỹ thuật; nâng cao năng lực quản lý điều hành và hiệu quả công việc đối với bộ máy quản lý; đôn đốc Nhà thầu thi công đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo chất lượng.

PV