Thảm họa Fukushima hẳn đã tác động mạnh lên tinh thần các quốc gia vừa bước lên con đường phát triển điện hạt nhân. 

20130329091512-dalat
Lò phản ứng hạt nhân ở Đà Lạt, Việt Nam.


Philippines là nước đầu tiên ở Đông Nam Á xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, nhưng Nhà máy Bataan 630 MW này đã bị đóng băng từ gần 3 thập kỷ trước khi vừa xây xong, vì không đáp ứng các yêu cầu an toàn hạt nhân.

Sau đó, nước này đã đưa vào kế hoạch hoàn chỉnh, một “chương trình năng lượng hạt nhân quốc gia” với mục tiêu “năm 2025 bắt đầu vận hành nhà máy 2.000 MW” với 2 lò phản ứng.

Sau sự cố Fukushima, kế hoạch trên chưa được khởi động với lý do “chúng tôi cần tính đến sự đồng thuận của xã hội” (lời Bộ trưởng năng lượng L. Petilla).

Trước đây chính phủ Malaysia cho biết kế hoạch xây 2 lò năng lượng hạt nhân với công suất tổng cộng 2.000 MW nhằm đáp ứng nhu cầu điện năng gia tăng. Theo dự định, lò đầu tiên dự định xây dựng vào năm 2021 và lò thứ hai chậm hơn một ít.

Nhưng, gần đây, theo lời của nhà lãnh đạo của Tập đoàn năng lượng hạt nhân nước này, kế hoạch trên có thể lùi sau năm 2021.

Indonesia lên kế hoạch đến năm 2024 sẽ xây 4 lò năng lượng hạt nhân với công suất 1.000 MW cho mỗi lò.

Indonesia tuyên bố lò năng lượng của họ sẽ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn cao, nhờ vào việc sử dụng các công nghệ tiên tiến hơn so với các lò ở Fukushima được xây dựng bốn thập kỷ trước đây.

Với tình trạng thiếu điện ngày càng tăng, nước này không dừng kế hoạch xây dựng các nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của mình như đã dự kiến trước khi sự cố Fukushima xảy ra. Một cuộc thăm dò dư luận công chúng cho biết đa số, với 52,93 % người được hỏi, ủng hộ công nghệ hạt nhân,

Thái Lan, ngay sau sự cố hạt nhân Fukushima vội tuyên bố ngưng kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân của mình. Nhưng ý định này, sau đó, đã quay ngược 180 độ vì Thái Lan lo lắng sẽ rơi vào tình trạng thiếu điện năng do nhu cầu sử dụng tăng liên tục.

Theo kế hoạch từ nhiều năm nay, Thái Lan sẽ cho xây dựng 5 lò năng lượng loại 1.000 MW và cho vận hành vào những năm 2020-2028; trong đó lò đầu tiên dự định phát điện vào năm 2020.

Nhưng thông tin mới nhất do Bộ trưởng Năng lượng của Thái Lan đưa ra là kế hoạch trên có thể cho lùi lại 3 năm.

Ở Việt Nam, Quốc hội đã thông qua nghị quyết về dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận gồm 2 nhà máy. Mỗi nhà máy có 2 lò năng lượng với công suất mỗi lò là 1.000 MW. Thời hạn dự định đưa tổ máy đầu tiên vào vận hành là năm 2020.

Tiếp theo, Việt Nam đã ký kết thỏa thuận hợp tác hạt nhân với Nga và Nhật vào đầu năm 2012. Theo đó, Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 sẽ hợp tác xây dựng với Nga và Nhà máy Ninh Thuận 2 với Nhật Bản. Việc hợp tác với Nga để xúc tiến dự án Nhà máy Ninh Thuận 1 đang tiến triển.

Nghị quyết Quốc hội nêu rõ, Việt Nam sẽ chọn công nghệ lò nước nhẹ cải tiến, thế hệ lò hiện đại nhất, đã được kiểm chứng, bảo đảm tuyệt đối an toàn và hiệu quả kinh tế tại thời điểm lập dự án đầu tư.

Sau một số năm thương thảo, một tháng trước khi xảy ra sự cố Fukushima, vào tháng 2/2011 Bangladesh đã ký một thỏa thuận với Nga xây dựng 1 nhà máy điện hạt nhân gồm 2 lò năng lượng với tổng công suất 2000MW.

Nhà máy bắt đầu xây dựng vào năm 2013 này và sẽ đưa vào vận hành năm 2018. Đây sẽ là nhà máy điện hạt nhân đầu tiên được xây dựng trong thời hậu Fukushima ở các nước Đông và Nam Á.

Tóm lại, sau thảm họa Fukushima, khác với một số nước châu Âu như Đức, Ý và Thụy Sĩ đang có ý định dần dần phi hạt nhân hóa ngành công nghiệp điện hạt nhân của mình, phần lớn các “đàn anh” vùng châu Á về điện hạt nhân như Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc, đã tái khẳng định chương trình hạt nhân của mình, đồng thời tiến hành bổ sung các biện pháp an toàn và thủ tục khẩn cấp. Dĩ nhiên Nhật Bản là trường hợp ngoại lệ, đặc biệt.

Các quốc gia khác thuộc lớp “lính mới” về hạt nhân như Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Bangladesh cũng trong xu hướng trên với những mức độ “thận trọng” khác nhau ít nhiều. Các nước này vẫn xác định lại chương trình phát triển điện hạt nhân quốc gia, xem đó là phương tiện chủ yếu để giải quyết tình trạng thiếu điện.

Sự diễn biến trong chính sách điện hạt nhân ở hầu hết các nước trên đây có thể lý giải. Trong tình hình nhiên liệu khoáng thạch, dầu và khí đốt, trên toàn cầu ngày càng khan hiếm và mối đe dọa của khí nhà kính đến môi trường sống đã đến mức báo động, đồng thời nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, điện hạt nhân vẫn được xem là nguồn bổ sung cần thiết đối với hầu hết các nước Đông và Nam Á.

Khi thảm họa Fukushima xảy ra, giữa các nhà phân tích có sự phân hóa. Một số cho rằng thời kỳ “phục sinh hạt nhân” ở châu Á đã không còn nữa. Một số khác vẫn lạc quan một cách thận trọng về tương lai điện hạt nhân ở khu vựcnày.

Thực tế diễn biến hai năm qua cho thấy kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở các nước châu Á vẫn tồn tại. Và sự “thận trọng” trong “lạcquan” đã thể hiện rõ nét, dĩ nhiên với mức độ khác nhau ở từng nước.

Trần Minh

http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/114844/hau-fukushima--cac--tan-binh--dien-hat-nhan.html